Chúng ta có thể làm gì?
Rất nhiều tổ chức, cơ quan chẳng hạn như Bộ Tư Pháp, Bộ Y tế, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Công nghiệp, Bộ Tài chính, các hiệp hội y tế, các hãng sản xuất rượu, các tổ chức phi chính phủ, mỗi cơ quan đều bảo vệ cho ý kiến của mình thường tạo ra sự mâu thuẫn trong việc lập ra một cách rõ ràng và thực hiện một cách hiệu quả chính sách về rượu. Do đó, sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội là rất cần thiết đối với việc thực hiện một chính sách phòng chống và chữa trị nghiện rượu một cách toàn diện và có cơ sở.
Rượu và luật pháp: Các chiến lược chính sách để phòng chống tác hại của rượu

Ngăn cấm
Kinh nghiệm trên toàn thế giới cho thấy rằng việc ngăn cấm toàn bộ việc sản xuất, buôn bán và tiêu thụ rượu thường không thể thành công trừ phi nó bắt nguồn chính từ văn hóa địa phương hay dựa trên sự thuyết phục mạnh mẽ mang tính tôn giáo của đa số người dân – và thậm chí một số vấn đề nghiêm trọng còn nảy sinh.
Vì vậy, đối với hầu hết các quốc gia, việc ngăn cấm rượu hoàn toàn là một mục tiêu không thể đạt được. Nó chẳng hề tác động đến lượng rượu được tiêu thụ; thay vào đó, nó còn thúc đẩy loại tội phạm có tổ chức, buôn lậu qua đường biên giới và sản xuất rượu cấm. Điều quan trọng hơn cả chính sách ngăn cấm trên toàn quốc gia là một sự thay đổi trong các hệ thống giá trị phải được đặt là mục tiêu hàng đầu.


Trách nhiệm khi bị say rượu
Vị thế pháp lý của hiện tượng tự say rượu vẫn còn đầy tranh cãi. Dường như về mặt nguyên tắc, luật pháp của hầu hết các quốc gia đều xét xử những người bị say rượu như thể họ là những người tỉnh táo. Thực tiễn xét xử và các tòa án xét xử có thể phản ánh thái độ chung của xã hội đối với những người say rượu. Các luật sư bào chữa đã nêu rõ nếu một người nghiện rượu bị say vào lúc gây ra hành vi phạm tội thì sự việc này có thể dẫn đến một bản án phạt nhẹ hơn hay tăng cơ hội hoãn thực hiện bản án.


Ngăn chặn 
Trong rất nhiều mô hình xã hội khác nhau, có những đạo luật chống lại hiện tượng nghiện rượu tại những nơi công cộng và chống lại các hành vi xấu khi say rượu và uống rượu tại những nơi công cộng. Tuy nhiện, mọi người nói chung đều tin rằng buộc tội hình sự những người say rượu tại nơi công cộng có thể không hiệu quả trong việc thay đổi hành vi của những người mà hầu như chẳng còn gì để mất.
Hiện nay, việc ngăn cấm lái xe sau khi uống một lượng rượu lớn hơn lượng cho phép nào đó được áp dụng tại hầu hết các quốc gia. Luật pháp quy định việc lái xe khi nồng độ cồn trong máu bằng hoặc lớn hơn mức cho phép là bất hợp pháp đã cho thấy rất hiệu quả trong việc thay đổi hành vi của người lái xe và giảm tỷ lệ các vấn đề xảy ra trên đường có liên quan đến rượu. Việc xử phạt nhanh chóng, chắc chắn và nghiêm khắc là rất quan trọng trong giá trị ngăn chặn.


Quy định việc cung cấp rượu và điều kiện được uống rượu
Giới hạn độ tuổi tối thiểu: Độ tuổi tối thiểu là một phần của việc ngăn cấm áp dụng cho một lớp dân số, thường dưới 18 tuổi. Có những bằng chứng cho thấy hiệu quả của việc tạo ra và đưa vào áp dụng các giới hạn độ tuổi tối thiểu trong việc giảm các vấn đề có liên quan đến rượu và giảm lượng tiêu thụ rượu của một lượng người thiểu số. 

Tăng thuế và các mức giá khác: Nhìn chung, những người uống rượu phản ứng với giá của các đồ uống có cồn cũng như đối với tất cả các loại hàng hóa khác. Nếu giá đó tăng lên, người uống sẽ uống ít đi. Dữ liệu từ các xã hội phát triển cho thấy rằng điều này ít nhất thì cũng đúng đối với những người nghiện rượu nặng cũng như những người thỉnh thoảng nghiện rượu. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc tăng thuế đối với rượu làm giảm tỷ lệ tai nạn giao thông, tử vong vì bệnh gan và các tai nạn do bạo lực có liên quan đến rượu gây ra tại cộng đồng. 

Hạn chế các cửa hàng bán, hạn chế thời gian và điều kiện bán rượu: Có bằng chứng xác thực cho thấy các mức độ và hình thức tiêu thụ rượu, tỷ lệ xảy ra các tai nạn và các vấn đề khác có liên quan đến rượu là do các giới hạn trong việc bán rượu, thường là mua các đồ uống có cồn một cách không thuận tiện. Tính hiệu lực của các quy tắc “các chính sách đối với các cửa hàng” quy định không được phục vụ các khác hàng say rượu, vv cũng có những tác động có lợi. 

Độc quyền việc sản xuất hay bán rượu: Các nghiên cứu về tác động của việc tư nhân hóa các công ty độc quyền bán lẻ rượu thường cho thấy sự gia tăng về mức độ tiêu thụ rượu và các vấn đề, một phần là vì số lượng cửa hàng và thời gian bán hàng tăng lên cùng với quá trình tư nhân hóa. Xét về khía cạnh sức khỏe cộng đồng, chính hình thức bán lẻ, rất quan trọng đối với việc tiêu thụ hàng hóa, trong khi độc quyền sản xuất hay bán buôn có thể hỗ trợ việc thu hồi doanh thu và kiểm soát hiệu quả thị trường. 

Hạn chế việc bán rượu: Hạn chế lượng rượu bán cho mỗi cá nhân có thể trực tiếp tác động đến những người nghiện rượu nặng, và cho thấy có thể giảm cả các vấn đề có liên quan đến việc say rượu chẳng hạn như bạo lực và các bệnh liên quan đến việc uống rượu như bệnh gan. 

Hạn chế quảng cáo và thúc đẩy bán rượu: Nhiều nước có các quy định đối với việc quảng cáo và thúc đẩy việc bán các loại đồ uống có cồn. Mặc dù nhiều người đồng ý rằng quảng cáo có thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự lựa chọn của các khách hàng đối với các loại sản phẩm khác nhau trên thị trường nhưng thật khó có thể đo đếm được mức ảnh hưởng của quảng cáo đối với nhu cầu đối với các loại đồ uống có cồn nói chung, một phần là vì các tác động đó có thể mang tính tích lũy và lâu dài, vì thế mà khiến chúng ta khó có thể cân đong đo đếm được. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây có những những bằng chứng mạnh mẽ chứng tỏ rằng việc quảng cáo và xúc tiến bán hàng làm tăng tổng nhu cầu và ảnh hưởng đến giới thanh thiếu niên và giới trẻ trưởng thành đối với việc uống rượu ngày càng tăng và trầm trọng. Thậm chí cả những nơi cấm quảng cáo rượu trên các phương tiện thông tin đại chúng thì những thông điệp này vẫn được gửi đến những người tiêu dùng hiện tại và tiềm năng dưới nhiều hình thức khác nhau gọi là “quảng cáo thay thế”, chẳng hạn như quảng cáo nước táo hay nước khoáng trong các chai giống với chai đựng rượu do cùng 1 công ty sản xuất hoặc có cùng nhãn hiệu. Một số nước yêu cầu phải có những cảnh báo về sức khỏe trên các chai đựng rượu. 


Hành động của cộng đồng để phòng chống tác hại của rượu 
Trong những thập kỷ gần đây, con người đã nỗ lực rất nhiều để lập ra các tổ chức đối tác, thường là cả các cơ quan chính thức và cả các nhóm cơ sở để đối phó với các vấn đề về rượu, ở mức độ cộng đồng địa phương. Hành động của cộng đồng về cơ bản không phải là một chiến lược mà là một hình thức hoạt động sử dụng một hoặc một số chiến lược phòng chống. Những dự án hành động như vậy của cộng đồng có thể cho thấy một số thành tựu còn khiêm tốn, phụ thuộc vào các chiến lược được áp dụng. 


Vai trò của cộng đồng 
Sự gắn kết chặt chẽ giữa gia đình và cộng đồng vô cùng quan trọng. Sự gắn kết này chính là một hệ thống hỗ trợ của xã hội, nhất là những lúc cần thiết chẳng hạn như khi ốm đau hoặc thậm chí là khi có các vấn đề về gia đình chẳng hạn như tác hại đối với một gia đình khi người chồng uống quá nhiều. Nhận thức về tác hại của rượu trong cộng đồng là một bước quan trọng trong việc tạo ra những nỗ lực dựa vào cộng đồng để kiểm soát tác hại này. 

Cộng đồng nên hiểu rằng….. 

• Những vấn đề về rượu không phải là điểm yếu. 
• Những vấn đề về rượu không có nghĩa là người uống rượu là xấu. 
• Những vấn đề về rượu nghĩa là có vấn đề về sức khỏe hoặc vấn đề về lối sống. 


Ý tưởng của phụ nữ chống lại rượu 
Đã có những báo cáo về các chiến lược dựa vào cộng đồng do các nhóm phụ nữ khởi xướng để kiểm soát sự có mặt của rượu tại một số cộng đồng hoặc thành phố cụ thể thông qua hành động trực tiếp. Những ý tưởng này thường nảy sinh do tác động của thói nghiện rượu và phụ thuộc vào rượu đối với phụ nữ và gia đình của họ, và thường được đưa ra với lòng nhiệt huyết của họ trên các phương tiện thông tin và tài liệu nghiên cứu. Phải công nhận rằng những ý tưởng như vậy rất đúng và rất hấp dẫn về mặt chính trị, nhưng tác động lâu dài của chúng vẫn cần phải được tạo lập dần dần. 


Thông tin và giáo dục: Vai trò của trường học 
Vai trò của trường học không chỉ là dạy các môn học lý thuyết mà còn là hỗ trợ học sinh phát triển các kỹ năng và khả năng tạo điều kiện cho các em sống cuộc sống lành mạnh và phản ứng phù hợp với môi trường. Trước đây, các trường đã dạy cho các em các hoạt động thể thao, và một số trường đã dạy cho các em về các giá trị tôn giáo, nhưng gần đây hơn, các trường đã bắt đầu dạy cho học sinh của mình các kỹ năng họ cần để sống tốt hơn nữa ví dụ như quản lý stress và xử lý áp lực. Một phần các kỹ năng này là tránh xa các thói quen như hút thuốc và uống rượu. Một phương pháp tương tác tạo cho học sinh nói chuyện cởi mở về chủ đề uống rượu, về thái độ của các em, áp lực của môi trường xung quanh đối với các em và cung cấp cho các em thông tin về những tác hại của rượu có thể là một cách lâu dài để phòng chống ngay từ ban đầu việc uống rượu, nhất là việc sử dụng có hại. 


Vai trò của gia đình 
Mặc dù gia đình phải chịu đựng thói quen uống rượu của một thành viên nào đó nhưng vai trò của gia đình trong việc giúp người đó từ bỏ thói quen đó và tái hòa nhập là vô cùng thiết yếu. Bước đầu tiên là phát hiện khi nào thì lượng rượu tiêu thụ đạt đến mức có hại. Bước tiếp theo là phải có cách điều trị phù hợp cho người đó. Sự hỗ trợ của gia đình đối với người đó không chỉ là trong việc tìm cách điều trị mà còn ở sự cần thiết phải duy trì cách điều trị đó, đôi khi cách điều trị đó chẳng dễ chịu chút nào. Cuối cùng rất quan trọng là việc tái hòa nhập, có nghĩa là quay trở lại với những trách nhiệm bình thường đối với gia đình và quay trở lại vị trí được tôn trọng trong gia đình, rất quan trọng. 


Rượu tại nơi làm việc
Phần lớn đối tượng bị các tác hại của rượu ảnh hưởng là các công nhân làm việc trong các văn phòng và nhà máy. Sự suy đồi tại nơi nơi làm việc là một trong những tác hại chính có liên quan đến việc uống rượu. Tác hại nghiêm trọng nhất là sự tổn thương nghiêm trọng đến các công nhân vì những chiếc máy rất nặng. Việc này hoàn toàn có thể hủy hoại một người công nhân, khiến cho người ấy mất cơ hội kiếm sống. Bị đuổi việc vì năng suất làm việc không hiệu quả do rượu có thể tạo nên sự đói nghèo trong gia đình đó. Mặc dù một ông chủ không bắt buộc phải có sự tư vấn và cách xử lý các vấn đề có liên quan đến rượu, nhưng ngày càng nhiều ông chủ bắt đầu coi tác hại từ rượu như là một vấn đề xã hội và việc phải xử lý nó là một trách nhiệm chung. Sự chuyển biến mang tính tích cực này không chỉ giúp cho gia đình một người nhân viên được phục hồi, từ đó cứu người đó cùng gia đình của họ qua cơn nghèo túng, mà còn cứu được một nhân viên lành nghề cho một ông chủ. Chính vì vậy, chúng ta cần phải cung cấp các hoạt động tư vấn, chữa trị và tái hòa nhập chuyên nghiệp. 

Các dấu hiệu của các vấn đề liên quan đến rượu tại nơi làm việc…

• thường xuyên đi làm muộn
• luôn vắng mặt
• mất tập trung
• tỷ lệ tai nạn cao
• đi làm không đều đặn
• Năng suất ngày càng giảm
• Ít giao tiếp với mọi người


Truyền thông
Các chiến dịch truyền thông mang tính thuyết phục cũng là một phương thức được ưa chuộng trong những thập kỷ gần đây nhằm phòng chống các vấn đề có liên quan đến rượu. Nói chung, đánh giá của các chiến dịch như vậy có thể cho thấy các tác động lên nhận thức và hiểu biết về rượu, nhưng chỉ đạt được một số thành tích khiêm tốn trong việc tác động đến thái độ và hành vi. Các bằng chứng cho thấy các công ty truyền thông góp phần gây ảnh hưởng đến thái độ của cộng đồng đối với các biện pháp chính sách về rượu nhiều hơn là thuyết phục những người nghiện rượu từ bỏ uống rượu. Do đó, các thông điệp truyền thông có thể có tác dụng như là những cơ chế được định sẵn trong cộng đồng hoặc làm tăng và duy trì sự hỗ trợ của công chúng đổi với các chiến dịch phòng chống. 
Tại các nước không cấm quảng cáo trên các phương tiện truyền thông, hình ảnh vĩnh cửu của rượu vẫn xuất hiện, nhất là trên vô tuyến. Xu thế phát triển của những hình ảnh này thể hiện rằng việc uống rượu là một mong muốn tự nhiên mà chẳng có vấn đề gì cả, làm mờ nhạt những nguy hại về sức khỏe và các hậu quả đáng tiếc khác. Khi các hậu quả về mặt xã hội, kinh tế hay sức khỏe được đề cập đến thì người ta có xu hướng coi nó như là một nỗi đau bình thường của một thiểu số người không may mắn hoặc yếu ớt nào đó, chứ không phải là một rủi ro vốn có ở một mức độ nào đó trong cuộc sống của tất cả những người uống rượu. Truyền hình giải trí đã được coi là một nhân tố đặc biệt mạnh mẽ trong việc tạo nên các niềm tin và các hành vi liên quan đến rượu. 

Các phương tiện truyền thông in ấn có vai trò quan trọng thông qua các chức năng định sẵn của chúng. Các phương tiện truyền thông, bằng việc lựa chọn các chủ đề của mình, tập trung được sự chú ý của cả công chúng và những nhà quyết sách đến những vấn đề nhất định nào đó. Chức năng định sẵn luôn gắn liền với chức năng cơ bản: thông qua việc nhấn mạnh một số khía cạnh và làm mờ nhạt các khía cạnh khác, phương tiện truyền thông tác động đến cách mà các vấn đề được xác định trong công chúng và tác động đến các cuộc thảo luận chính trị. Các nhà quyết sách có xu hướng coi những vấn đề trên phương tiện truyền thông là dấu hiệu về các vấn đề của công chúng. Các vấn đều của công chúng được tạo ra hay phản ánh thông qua các phương tiện truyền thông, do đó có thể ảnh hưởng đến các vấn đề chính trị. Trong một số trường hợp, phương tiện truyền thông có thể gây ra ảnh hưởng trực tiếp hơn đối với các vấn đề chính trị: phương tiện truyền thông có thể đẩy nhanh các quá trình ra quyết định thông qua việc đưa tin tích cực về vấn đề hay làm chậm quá trình đó thông qua việc đưa tin tiêu cực. 


Các phương pháp điều trị cho người uống rượu bừa bãi 
Có 3 phương pháp khác nhau cho những người cần phải điều trị những người uống rượu bừa bãi 

• Phương pháp đạo đức tôn giáo
• Phương pháp giáo dục mang tính xã hội
• Phương pháp chăm sóc sức khỏe – khái niệm về bệnh

Các phương pháp này dựa trên các khái niệm khác nhau về những người uống rượu bừa bãi và liên quan đến các kỹ thuật quản lý vấn đề khác nhau. Mặc dù có một số chương trình điều trị chỉ phù hợp với một trong số các phương pháp này, nhưng hầu hết các chương trình và cơ quan điều trị áp dụng các kỹ thuật này từ một số phương pháp khác nhau. Các bệnh nhân tự thực hiện và đôi khi là với sự đồng ý và động viên tích cực của các chuyên gia liên quan, áp dụng các dịch vụ do nhiều cơ quan và chương trình cung cấp đồng thời. 

Phương pháp đạo đức tôn giáo 

Các phương pháp này dựa trên sự hiểu biết rằng việc uống rượu có hại xảy ra vì sự suy đồi về đạo đức và/hoặc thiếu sự trung thành hay niềm tin tôn giáo. Sự giúp đỡ cho những người uống rượu có hại được cung cấp thông qua tác dụng ngăn chặn mang tính tôn giáo và củng cố đạo đức. Nhiều chương trình và tổ chức cơ quan trở nên nhạy cảm đối với việc kết hợp các chủ đề giá trị đạo đức và tôn giáo vào trong các hoạt động của họ. Các phương pháp mang tính tôn giáo như quan hệ tôn giáo có thể được áp dụng như là những nhân tố quan trọng tạo điều kiện phục hồi, duy trì thói quen không uống rượu và khuyến khích tái hòa nhập xã hội. 
Tiềm năng đầy đủ của phương pháp này vẫn còn phải tìm hiểu và được khai thác. 


Phương pháp giáo dục mang tính xã hội 

Phương pháp giáo dục mang tính xã hội dựa tren nền tảng là thói quen uống rượu có hại là một dạng sai lầm mang tính xã hội và chỉ có thể xử lý bằng các biện pháp giáo dục mang tính xã hội. Nhiều chương trình giáo dục cho giới trẻ và tội phạm vị thành niên cũng làm theo phương pháp này. Các chương trình thành công đã được phát triển để điều trị cả ma túy và rượu. Các cộng đồng chữa trị (TCs) được biết như là mô hình nổi bật và nổi tiếng nhất dựa trên phương pháp giáo dục xã hội. Cơ sở vật chất chăm sóc sức khỏe của những người uống rượu bừa bãi, nhất là những người có vấn đề về nhân cách, đã được xây dựng và sẽ đi vào hoạt động. 

TCs được thành lập dựa vào mô hình học tập xã hội nhằm thúc đẩy sự thay đổi về hành vi và thái độ do những mẫu hình hành vi và áp lực. Trong một TC, người đó học được các giá trị xã hội và loại bỏ được các cách thức hành vi tự hủy hoại chống lại xã hội thông qua các tương tác theo chiều sâu với những người đồng cảnh. Người đó sẽ học và sử dụng các kỹ năng xã hội và gánh các trách nhiệm (đảm nhận công việc) để giúp duy trì cộng đồng chữa trị TC. Khi một người có tiến bộ trong quá trình điều trị, các bài tập mang tính thử thách và trách nhiệm hơn được đưa ra ở mức độ cao hơn. Ngoài ra, “các buổi gặp mặt buổi sáng”, hội thảo và các nhóm yêu cầu tạo cơ hội học hỏi. Do đó, một cộng đồng chữa trị là một khái niệm rất mạnh mẽ được tạo ra nhằm cung cấp cho các khách hàng những công cụ phát triển - cả về mặt cảm xúc, tinh thần và trí tuệ trong thời gian từ 6 đến 12 tháng. 

Những ứng viên phù hợp cho việc điều trị trong một cộng đồng chữa trị bao gồm các bệnh nhân thiếu ý chí, cần phải có hoàn cảnh được tổ chức tốt để có thể bắt đầu chữa trị, và những bệnh nhân mà sự đối phó của cộng đồng và nhóm đồng cảnh là một phần quan trọng trong giai đoạn điều trị đầu tiên. 

Hiện nay, ngoài việc sử dụng phương pháp giáo dục mang tính xã hội, hầu hết các cộng đồng chữa trị đều đã tự điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu thay đổi của các khách hàng. Do đó, họ cung cấp rất nhiều loại dịch vụ khác nhau để giải quyết các vấn đề, chẳng hạn như sự đau đớn về mặt thể chất và tâm thần, nhiễm HIV, tái hòa nhập giáo dục và đào tạo nghề. 

Phương pháp chăm sóc sức khỏe – Khái niệm về bệnh 

Điều cần nhấn mạnh ở đây là phải coi chứng nghiện rượu như là bất kỳ một căn bệnh nào khác có nguyên nhân cụ thể, các đặc điểm lâm sàng, thời kỳ phát triển và kết quả cần phải có các biện pháp can thiệp (thường rất đa dạng). Chứng nghiện rượu là một căn bệnh căn bản, kinh niên và nếu không được chữa trị tận gốc có thể gây tử vong. Thiết bị chữa trị và nhân viên chữa trị được trang bị những kiến thức và kỹ năng cũng như được đào tạo để có thể đạt được và duy trì được thói quen kiêng rượu, để tránh khởi các hậu quả có hại về mặt sức khỏe và tâm lý của việc uống rượu, và chống trở lại thói quen uống rượu. Vì vậy, việc chữa trị/can thiệp trong biện pháp chăm sóc sức khỏe cần phải toàn diện, phải được thực hiện tốt nhất là do một đội có tính kỷ luật cao, bệnh nhân cần phải có ý chí và sự gắn bó nhất định đối với việc chữa trị và các thành viên trong gia đình phải có sự hỗ trợ và tham gia đầy đủ - đặc biệt nếu đó là một chương trình cho bệnh nhân ngoại trú. 

Vai trò của chăm sóc y tế:

Việc lập ra kế hoạch điều trị phù hợp cho mỗi cá nhân phải dựa trên đánh giá chi tiết được thực hiện riêng đối với từng bệnh nhân. Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của các vấn đề liên quan đến rượu, các hậu quả về mặt sức khỏe và tâm lý mà các hệ thống hỗ trợ, các thiết bị chăm sóc sức khoẻ, khung cảnh điều trị và các phương thức sẵn có đều được điều chỉnh cho phù hợp với từng cá nhân. 

Các bệnh nhân có các vấn đề liên quan đến rượu được điều trị tại nhiều cơ sở ở bệnh viện, không phải bệnh viện và cơ sở tại cộng đồng. Cơ sở bệnh viện bao gồm từ các trung tâm điều trị chuyên môn cho những người sử dụng các chất gây nghiện bừa bãi, cho đến các bệnh viện hoặc trung tâm tâm thần và các dịch vụ tâm thần tại các bệnh viên đa khoa cho đến các dịch vụ y tế tại các bệnh viện đa khoa. Các phương thức điều trị bao gồm điều trị dược lý để cai nghiện cấp tính, các vấn đề về y tế/tâm thần, điều trị sức khỏe lâu dài, liệu pháp nhóm, tâm lý cá nhân tái hòa nhập nghề nghiệp và các chương trình phòng chống tái nghiện. 


Lập kế hoạch chữa trị: 4 giai đoạn chữa trị
Các chương trình can thiệp có các mục tiêu và mục đích trước mắt, ngắn hạn và dài hạn. Mục tiêu và mục đích trước mắt là tham gia vào các nhu cầu cấp bách có liên quan đến rượu chẳng hạn như cai nghiện, chữa trị các biến chứng cấp tính về sức khỏe và can thiệp vào các trường hợp bị khủng hoảng. Mục đích và mục tiêu ngắn hạn thường là điều trị các điều kiện sức khỏe kinh niên hay các điều kiện tâm thần, duy trì thói quen không uống rượu, tái hòa nhập gia đình và bắt đầu tái hòa nhập cộng đồng. 
Các mục đích và mục tiêu lâu dài tập trung vào vấn đề lớn hơn là chống tái nghiện, tái hòa nhập nghề nghiệp, tái hòa nhập xã hội, lối sống lành mạnh và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Dựa vào những mục tiêu này, quá trình điều trị được chia thành 4 giai đoạn: tiền điều trị, giai đoạn cai nghiện, giai đoạn điều trị tích cực và giai đoạn hậu chăm sóc. 

Giai đoạn tiền điều trị (giai đoạn tạo lập quan hệ/giai đoạn chuẩn bị):

Việc sớm xác định người có mắc các vấn đề liên quan đến rượu và phỏng vấn khích lệ tạo nên cơ sở cho giai đoạn tiền điều trị. Phỏng vấn khích lệ nhằm giúp người đó chấp nhận vấn đề và cần sự giúp đỡ bên ngoài. Bác sỹ tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe các tổ chức phi chính phủ dựa trên cộng đồng, chủ lao động, bạn bè và các thành viên của gia đình có thể rất có tác dụng trong nhiệm vụ quan trọng này để chuẩn bị tâm lý cho bệnh nhân bắt đầu việc điều trị trong giai đoạn này vì nó có thể kéo dài từ vài ngày đến vài tuần hoặc vài tháng. 

Cai nghiện (giai đoạn cắt cơn ):

Giai đoạn cai nghiện thường kéo dài từ 1 tuần đến 2 tháng tùy thuộc vào loại chất nghiện, lượng chất nghiện sử dụng và thời gian nghiện. Quá trình cai nghiện thường được thực hiện bằng benzodiazepines để kiểm soát các triệu chứng cai nghiện xảy ra khi ngừng uống rượu hoặc sử dụng hình thức khác để thay chất gây nghiện. Sinh tố B và các loại vitamin B hỗn hợp khác cũng rất cần thiết. Thời kỳ cai nghiện cũng được dùng để đánh giá các tác động vể mặt sức khỏe và các vấn đề khác trong đời sống của bệnh nhân, cũng như để đánh giá điểm mạnh và điểm yếu của bệnh nhân. 

Điều trị cụ thể:

Giai đoạn này kéo dài từ 3 đến12 tháng hoặc lâu hơn, và có liên quan đến quá trình lựa chọn các phương thức điều trị chủ yếu bằng thuốc, liệu pháp tâm lý hay tâm lý xã hội. Căn cứ vào đánh giá đưa ra, người ta sẽ chọn một hoặc một số phương pháp điều trị. Những phương pháp điều trị cụ thể thường được sử dụng là liệu pháp tâm lý dựa trên nhóm hay cá nhân, sự can thiệp của gia đình và các kế hoạch tái hòa nhập. Các biện pháp điều trị này được thực hiện một cách có tổ chức nhưng mang tính cá nhân rất cao để đáp ứng nhu cầu riêng của các bệnh nhân.
Liệu pháp tâm lý cá nhân được áp dụng cho các bệnh nhân có các vấn đề liên quan đến việc uống rượu trước năm 1960 đã không thành công lắm. Tuy nhiên, các liệu pháp cá nhân lại được sử dụng lại vào những năm 1980, một phần là do các chỉnh sửa trong các liệu pháp tâm lý và sự phát triển rất nhiều các liệu pháp khác (chẳng hạn như các liệu pháp hỗ trợ thể hiện, giao tiếp, và hành vi nhận thức) và cũng là do việc áp dụng quy định hạn chế dược phẩm. 

Hậu chăm sóc (giai đoạn chống tái nghiện)

Giai đoạn hậu điều trị và hậu chăm sóc tập trung vào các mục tiêu dài hạn được đặt ra và có thể tiếp tục trong 3 đến 5 năm hoặc lâu hơn thế. Trong giai đoạn này, vai trò của gia đình và các tổ chức xã hội khác tích cực hơn và cần thiết hơn. Đối với các bệnh nhân tiếp theo và hậu chăm sóc, yếu tố quan trọng nhất là duy trì mối quan hệ điều trị đã được tiếp tục. Khía cạnh quan trọng khác trong giai đoạn này là nhận ra hiện tượng tái nghiện. Chống tái nghiện thường được thực hiện thông qua các kỹ năng phù hợp, tái hòa nhập nghề nghiệp và quan hệ với các thành viên trong gia đình. 

Phục hồi từ nghiện không chỉ liên quan đến thói quen không sử dụng các chất gây nghiện cũng như tạo ra những thay đổi đối với việc cải thiện chất lượng cuộc sống. Quá trình phục hồi này rất khó khăn. 

Uống rượu trong giai đoạn hậu chăm sóc có thể coi là tái nghiện. Phát hiện ra khả năng tái nghiện là một hiện tượng quan trọng đối với quá trình phục hồi và có thể xử lý một cách có ý nghĩa. Nó có thể giúp tránh được cảm giác chán nản và vô tác dụng đối với bệnh nhân, gia đình, nhóm điều trị nếu đó được bị coi là sự thất bại của việc điều trị. Tất cả mọi người sẽ giúp toàn bộ quá trình phục hồi có thể tốt hơn nếu họ chấp nhận hiện tượng tái nghiện, qua đó tiếp tục chống tái nghiện. 

Các chiến dịch cụ thể để chống tái nghiện bao gồm việc xác định các yếu tố rủi ro gây tái nghiện, các biện pháp can thiệp và các phương pháp điều trị có thể giảm nhẹ các yếu tố đó. Mục đích chính của các mô hình chống tái nghiện cụ thể này là giúp bệnh nhân xác định các biện pháp chống tái nghiện tiềm tàng và các kỹ năng xử lý tương ứng.

News and Sponsors